Hoa Ma
 

T  H  Ờ I   -   S Ự

 

Trịnh Công Sơn , một loại kư sinh trùng !   - BB Liêm -

 
 Sau khi miền Nam bị CS cưỡng chiếm th́ bao nhiêu sự thật lịch sử đă lần lượt được phơi bày, nhưng chân tướng của Trịnh Công Sơn vẫn c̣n được một số người cố gắng che dấu. Những  người này cố tṛng vào cổ Trịnh Công Sơn cái ṿng hào quang “ Quốc Gia ” , họ tiếp tục ca tụng Trịnh Công Sơn là một người quốc gia !
 
Nhưng có một sự thật hiển nhiên mà họ không thể chối căi được, là trong suốt cuộc chiến của người Việt Quốc Gia chống lại sự xích hoá của CS Quốc tế, được thực hiện bởi tay sai đắc lực là CS Hà Nội; Trịnh Công Sơn là một tên trốn lính. Chẳng những trốn lính, chẳng những đứng bên lề cuộc chiến, không hề chiến đấu bảo vệ chính bản thân của ḿnh trước làn sóng xâm lăng của CS, Trịnh Công Sơn  c̣n tiếp tay cho công cuộc xâm lăng của CS bằng những bài ca phản chiến !
 
Vào ngày 30-4-1975, Trịnh Công Sơn đă lớn tiếng minh định anh ta không phải là người Quốc Gia khi hát bài Nối Ṿng Tay Lớn trên đài phát thanh Sàigon để  “ chào mừng cách mạng thành công  ” vào lúc xe tăng CS Bắc Việt vừa tới dinh Độc Lập !
 
Nguyễn Đắc Xuân, một người bạn rất thân của Trịnh Công Sơn, một tay đao phủ của thành phố Huế trong biến cố Tết Mậu Thân 1968, ( đệ nhất  đao phủ là Hoàng Phủ Ngọc Tường, cũng là bạn rất thân của Trịnh Công Sơn - Trịnh Cung và Đinh Cường ),  viết rằng:
 
“ Từ sau ngày Trịnh Công Sơn qua đời, nhiều dư luận trong và ngoài nước có khuynh hướng “ lôi anh về phía bên này” hoặc “ đẩy anh về phía bên kia”. Đối với Trịnh Công Sơn ai lôi anh th́ cứ lôi, ai đẩy anh th́ cứ đẩy, “ kệ”. Trịnh Công Sơn là Trịnh Công Sơn, ai muốn hiểu sao cứ hiểu. Tuy nhiên cuộc đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đă thuộc về lịch sử, mà đă là lịch sử th́ “ bên này”  hay “ bên kia” phải được chứng minh bằng tư liệu, tư liệu thành văn và tư liệu sống, nói có sách mách có chứng. Không thể phát ngôn về Trịnh Công Sơn theo cảm tính hay theo một định kiến nào....”
( Trịnh Công Sơn, có một thời như thế – Nguyễn Đắc Xuân - nhà xuất bản Văn Học ).
 
Dựa theo những “ tư liệu thành văn và tư liệu sống”, Nguyễn Đắc Xuân đă trích lại những điều sau đây do chính Trịnh Công Sơn viết xuống trong quyển sách vừa dẫn:
 

  •  Thời kỳ trốn lính

 Trước khi sống qua một thời kỳ bất ổn định, tôi đă từng có được hai năm sống thong dong hợp pháp như tất cả mọi người đàng hoàng đứng đắn trên mặt đất. Muốn được thế, tôi đă phải đánh đổi bằng gần sáu mươi ngày nhịn đói tuyệt đối trong hai năm ( mỗi năm 30 ngày liên tiếp trước khi tŕnh diện ) để đạt được cái mức độ không đủ tiêu chuẩn của một người lính. Nhưng muốn xuống kílô nhanh c̣n phải không ngủ và uống thêm điamox là một thứ thuốc rút bớt nước trong các tế bào ra. Qua năm thứ ba th́ không ra tŕnh diện nữa v́ cảm thấy không đủ sức khoẻ để lặp lại cái chế độ ăn uống không có thực phẩm ấy nữa. Trốn lính gần như là một cái “ nghề ” đầy tính chất phiêu lưu của hàng triệu thanh niên miền Nam lúc bấy giờ. Thái độ phản kháng ấy, dù được nh́n dưới một góc độ nào đó c̣n mang tính thụ động, vẫn phải được nhắc nhở đến như một nốt nhạc trong trẻo đă ngân lên trong một giai đoạn u ám, nhiễm độc, giữa những đô thị miền Nam.


Tôi đă sống lang thang như một kẻ vô gia cư, vô định trú thứ thiệt. Thời gian không xê dịch nhiều, chỉ kéo dài khoảng ba năm, đó là lúc tôi nhập cư cùng một số sinh viên trốn lính khác đă có mặt trong những căn nhà tiền chế tồi tàn bỏ trống ở khu đất rộng sau trường đại học Văn khoa. Ở đây có một lợi thế  là rất hiếm bị khám xét. Vào thời điểm ấy, trên khoảng đất trống lại mọc thêm một cái trụ sở Hội Hoạ Sĩ trẻ bằng gổ, hiện đa số hoạ sĩ  vẫn c̣n có mặt trong thành phố. Giấc ngủ của tôi cứ tùy nghi hoán chuyển từ trên cái ghế bố trong túp lều này qua cái mặt nền xi măng của trụ sở hội nọ. Việc ăn uống đă có hàng quán dọc đường gần đó. Rửa mặt đánh răng th́ mỗi sáng vào pḥng vệ sinh của những quán cà phê quen thuộc, chỉ có việc mang theo khăn, kem và bàn chải đánh răng.
Thế đấy, nhưng chính những năm này là những năm sôi động nhất của đời tôi.
 
Sống trong t́nh trạng bấp bênh như thế tôi vẫn phải làm việc không ngừng để sống. Tôi vẫn viết đều tay và vẫn tiếp tục đi hát. Những ca khúc của tôi được in ra từng tờ rời và từng tuyển tập. Phụ trách công việc in ấn và phát hành đă có người em ruột của tôi, cũng cùng trốn lính, chăm lo. Việc in ấn càng lúc càng khó khăn, nhất là sau khi có lệnh tịch thu của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu toàn bộ các tập ca khúc và băng nhạc của tôi. Cảnh sát lúc bấy giờ được lệnh vào tận các nhà in để truy lùng. Thế là phải đổi kế hoạch. Thay v́ in trong một nhà in, nay phải rải ra trong ba bốn nhà in khác nhau. Tịch thu nơi này c̣n nơi khác, và dĩ nhiên, chuyện đi đứng không phải dễ dàng. Đi từ một nhà in ở vùng SàiG̣n đến một nhà in ở vùng Chợ Lớn phải qua biết bao nhiêu là trạm xét hỏi.


Sau lệnh tịch thu, tất cả báo chí trong và ngoài nước đều đưa tin . Các hăng thông tấn  và truyền h́nh truyền thanh nước ngoài ào ạt đổ xô về nơi ăn chốn ở rất là “ híp pi” đó của tôi càng lúc càng đông. Mỗi ngày trung b́nh ít lắm cũng phải ba lần phỏng vấn, thu h́nh, thu mặt. Tôi bỗng trở nên người nổi tiếng bất đắc dĩ. Ban đầu cái sự kiện này cũng mang đến cho tôi chút niềm vui nhưng càng về sau càng trở thành một tai nạn. Họ săn đuổi tôi đến mọi chổ lánh mặt xa xôi nhất. Từ SàiG̣n ra Huế,  chỉ vài hôm sau đă thấy có mấy mạng người đủ các màu da, xứ sở khác nhau xuất hiện ở cửa. Đời sống bỗng chốc mất đi cái tự do được quyền không nói năng, được quyền ngồi yên tĩnh một ḿnh mà suy ngẫm cho đến nơi đến chốn bao nhiêu điều ḿnh chưa biết trong cơi đời rộng lớn này. Tôi phải sống những khoảnh khắc phù phiếm trên báo chí và trước ông kính ấy cho đến mười ngày trước ngày thành phố được hoàn toàn giải phóng. Giờ đây sau hai mươi năm thành phố đă mang tên Bác, thỉnh thoảng vẫn c̣n những cuộc phỏng vấn của người nước ngoài, nhưng vó không c̣n là một nỗi ám ảnh kinh hoàng nữa.

Nghĩ lại chuyện cũ, tôi biết rằng những cái đó có được là do tấm ḷng ưu ái của quần chúng đối với ḿnh. Sức mạnh t́nh cảm của đám đông quần chúng là một trong những tấm khiên che chở ḿnh trước những mối đe dọa và là những kèo cột chống đỡ tinh thần và t́nh cảm ḿnh được vững vàng trước bao nhiêu khó khăn phức tạp của cuộc sống.
Nhẩm tính lại, tôi đă hùn hạp tất cả vốn liếng của ḿnh vào cái đại gia đ́nh trốn lính vừa tṛn chẵn mười ba năm.
Đă qua hẵn rồi cái thời của “ bèo giạt mây trôi”, của những giấc ngủ bị săn đuổi.
( sđd tr. 179-183 )
 

  • Thuở ấy Nhị Xuân, em ở nông trường, em ra biên giới

  Đêm Nhị Xuân không c̣n thấy rơ màu đất đỏ  và những băi mía, băi dứa cùng lán trại cũng khoác một màu áo khác. Mưa xuống. Hội trường dă chiến như một cái rá lọc nước thả xuống những giọt dài. Chúng tôi ( Phạm Trọng Cầu, Trần Long Ẩn và tôi...) cùng anh em Thanh niên Xung phong nam nữ hát với nhau dưới một bầu trời được trang trí lạ mắt như thế . Đêm cứ dài ra và những tiếng hát cứ dài ra. Nước ở con kênh dâng lên. Mặc kệ. Cứ đứng, cứ ngồi, cứ hát. Gần khuya có cô gái Thanh niên Xung phong nhanh nhẹn vui tươi mang cho cho chúng tôi những bát cháo gà trước khi chia tay.

Những khuôn mặt ấy, tôi đă quen đă nh́n thấy nhiều lần. Một giờ khuya, lên xe giă từ Nhị Xuân, ḷng c̣n âm vang tiếng cười, tiếng hát. Những bàn tay siết chặt, những cái vẫy trong đêm không nh́n thấy. Quá giờ giới nghiêm, xe dừng lại giữa đường, không được vào thành phố. Ngủ lại chờ sáng. về lại thành phố, trở lại công việc thường ngày. Nhưng ở Nhị Xuân, có hai mươi người con gái Thanh niên Xung phong đi về phía khác. Mấy tháng sau, tôi được tin tất cả hai mươi khuôn mặt tôi đă nh́n, đă gặp đêm hôm nào ở Nhị Xuân cùng nhau ca hát, đă hy sinh ở biên giới Tây Nam. Những tiếng hát giọng cười c̣n đó. Những cây mía cây dứa các bạn trồng vẫn c̣n đó , vẫn lớn lên. Tôi bồi hồi nh́n ra quăng trời rộng và thấy lại trong trí nhớ những con người trẻ trung ấy.

Trong những trái tim ấy có ǵ khác chúng ta không. Trong giấc ngủ ban đêm, trên những vầng trán khoẻ mạnh ấy, đă có những cơn mơ nào. Chúng ta nói quá nhiều đến sự tṛn đầy và chúng ta quên đi sự mất mát. Chúng ta vẽ ra lắm nụ cười mà quên đi những nỗi ngậm ngùi riêng tư. Những người bạn nhỏ đă ra đi thật vĩnh viễn, nhưng nỗi nhớ thương về họ chưa được hát đủ như một nỗi đau. C̣n thiếu sót biết bao nhiêu điều chưa nói hết lúc ở nông trường và càng chưa nói được một mảy may lúc ra biên giới. Làm một điều ǵ chưa đến chốn với một người không c̣n nữa, có phải cũng đă là phạm tội với cuộc đời rồi hay không. Xin hăy tha thứ những ḍng chữ óng mượt, những sắp xếp tinh khôn, những cân nhắc đong đưa xuôi chèo thuận lái.
( Sđd, chương V: Phát thảo chân dung tôi – Trịnh Công Sơn. Trang 186-188 )
 

  • Anh Sáu Dân với Trịnh Công Sơn

 Hơn hai mươi năm trước, đồng chí Bí thư Thành ủy Thành phố  Hồ Chí Minh, đồng chí Vơ Văn Kiệt “ rủ ” Trịnh Công Sơn và tôi đi khảo sát đất Trị An. Từ chuyến đi ấy Trịnh Công Sơn và tôi cũng như một số bạn bè gọi đồng chí Bí thư bằng anh Sáu, anh Sáu Dân rất thân mật. Chuyến đi ấy anh mang đến cho hai đứa tôi về giấc mơ điện “ Trị An”. C̣n anh, anh không chỉ mơ mà khẳng định quyết tâm và bắt tay tổ chức hiện thực. 
 
Buổi chiều trên đường về mưa gió mịt mù. Trịnh Công Sơn và tôi ngồi trên chiếc xe jeep.
Về đến nhà anh Sáu, áo của Sơn đổi màu mưa bụi. C̣n tôi, nhờ có chiếc áo gió, áo trong của tôi c̣n sạch. Anh Sáu bảo chúng tôi tắm, anh Sáu mang chiếc áo của anh cho Sơn. Chiếc áo ấy Sơn vẫn để trong tủ áo của ḿnh, ít ai biết.
Anh Sáu đánh giá và b́nh phẩm ca khúc của Trịnh Công Sơn theo cách của anh. Với tôi anh Sáu là một nghệ sĩ, nghệ sĩ với con người chiến sĩ của anh. Không hề có khoảng cách về tuổi tác, về cương vị xă hội, hai người nghệ sĩ  ấy đă gặp nhau, đă trở thành một đôi bạn chia sẻ nhiều nổi niềm không thành lời, không thành tiếng. Những năm khó khăn, cơm độn bo bo, có lần anh Sáu gởi gạo đến gia đ́nh Trịnh Công Sơn.
 
Có một lần anh Sáu tâm sự với Sơn “ Anh em trí thức ở thành phố ḿnh bỏ đi  nhiều quá. Mỗi người mỗi cương vị, làm sao giữ anh em lại, cùng xây dựng đất nước. ” Sau đó Trịnh Công Sơn viết ca khúc “ Em c̣n nhớ hay em đă quên”. Lần thứ hai, anh Sáu nói với Sơn “ Trong lúc khó khăn này, làm sao mọi người đều có niềm tin, niềm vui, vượt lên khó khăn để xây dựng Thành phố...” Sau đó, Trịnh Công Sơn cho ra bài “ Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui ”.


Sau này anh Sáu về Trung Ương, ở cương vị Phó Thủ Tướng, Thủ Tướng, Cố Vấn BCH Trung Ương Đảng, dù ở cương vị nào, mỗi lần về SàiG̣n, ngoài công việc, anh hay gặp gở lại bạn bè. Trong những cuộc gặp gỡ ấy, thường có Trịnh Công Sơn. Những cuộc gặp ấy bao giờ Trịnh Công Sơn cũng ngồi gần anh Sáu, như không thể cách xa nhau. Theo tôi hiểu, ít có người Việt Nam nào đi khắp mọi miền như anh. Anh đến cả những vùng sâu vùng xa đến nỗi, chánh quyền địa phương cũng chưa đặt chân đến.
 
Anh kể với chúng tôi về những chuyến đi. Rồi ai có sáng tác nào mới, hát cho anh nghe. Trần Long Ẩn chuyên hát lời hai, lời ba. Nguyễn Duy đọc thơ, Trịnh Công Sơn chưa có bài mới th́ tùy hứng. Một lần chị Sáu ( vợ anh Sáu) nói “ Sao mà tôi thích cái câu - sỏi đá cũng cần có nhau - sâu xa quá!”. Thế là Trịnh Công Sơn cầm đàn hát “ Diễm xưa”. Thật khó có người nào hát hay bằng Sơn hát về ḿnh.
Có một lần, tôi kể với Trịnh Công Sơn, anh Sáu nói với tôi rằng anh Sáu vừa nghe đài Hoa Kỳ hai buổi lúc 5h30 sáng, đài Hoa Kỳ b́nh luận về ba nhạc sĩ lớn của Việt Nam: Văn Cao, Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, đài Hoa Kỳ b́nh luận, ca từ của Trịnh Công Sơn là lời của phù thủy. Họ không giải nỗi ư nghĩa nhiều tầng, nhiều góc ca từ của Trịnh Công Sơn, nên đành phải nói là lời của phù thủy. Anh Sáu thích lắm! Trịnh Công Sơn không ngạc nhiên nhiều về lời b́nh của đài Hoa Kỳ mà ngạc nhiên :“ Anh Sáu theo dơi kỹ vậy à? Thế mà anh em ḿnh không ai biết”.


Anh Sáu quư trọng tài năng của Trịnh Công Sơn và rất yêu con người và tính cách của Sơn có khi hồn nhiên như trẻ thơ.
Có một đêm, anh Sáu rủ Sơn và tôi đến chơi. Anh Sáu mang chai Mao Đài đăi hai chúng tôi. Sơn xỉn. Thế là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bắt đầu dạy Thủ tướng Vơ Văn Kiệt làm chánh trị. “ Anh đi Nhật mà không gọi em là không chính trị. Nhật họ quư em lắm. Anh đi nước ngoài anh phải thế này, thế kia, thế nọ...” Anh Sáu và tôi cứ cười, Sơn th́ vẫn cứ thao thao.
Hôm sau tỉnh rượu, tôi lại với Sơn, Sơn ngửa mặt cười:
- Có thật vậy à ? Anh Sáu có giận ḿnh không ?
- Không! Anh Sáu vui!
- Lần sau nhớ nhắc ḿnh nhé!. Tôi thầm nghĩ, Sơn phải là Sơn nhắc làm ǵ?    
Vào một ngày cuối tháng ba năm nay, tôi gặp anh Sáu, anh Sáu hỏi thăm Sơn. Tôi báo anh, Sơn bịnh nhiều, Sơn đang cấp cứu trong bịnh viện. Anh nói:
- Mai ḿnh đi Hà Nội, sau Đại hội Đảng ḿnh về, ḿnh thăm Sơn, các em Sơn. Xem nước ngoài nào chữa được Sơn, ḿnh tạo điều kiện để Sơn đi.
Nhưng không kịp nữa, chiều ngày 1-4-2001 tôi gọi điện thoại cho anh “ Anh Sáu ơi! Sơn mất rồi...” Anh hỏi, anh nói nhưng tôi không nhớ ǵ, chỉ nhớ “ Đau ḷng quá!” và chị Sáu kêu lên “ ...buồn quá...”


Buổi chiều ngày 3-4-2001, vào 18 giờ, tôi nhận được điện thoại của anh, anh chị đi thăm mộ Trịnh Công Sơn đang trên đường về, hẹn tôi ở nhà Trịnh Công Sơn.
Buổi gặp này có anh Sáu, chị Sáu, các em của Trịnh Công Sơn, anh Phạm Phú Ngọc Trai và tôi. Anh hỏi những ngày cuối cùng của Sơn...Anh nói:
- Những năm sau này, Sơn yếu nhưng sức sáng tác của Sơn rất dồi dào. Mỗi lần gặp lại là Sơn có sáng tác mới. Ca từ trong ca khúc sau này của Sơn càng thâm thúy. Ai nghe cũng thấy ḿnh ở trong ấy. Sơn đi là một mất mát lớn, không chỉ cho nền âm nhạc nước nhà mà là c̣n sự mất mát nhiều mặt của nền văn hóa Việt Nam. Thương và tiếc, tiếc quá! Một mất mát lớn, rất lớn.


Anh Phạm Phú Ngọc Trai thêm một ṿng thông tin: “ Nước ngoài đánh giá Trịnh Công Sơn  không chỉ là một danh nhân Việt Nam mà c̣n là danh nhân thế giới”. Anh Sáu trầm ngâm khẽ gật gù.
Tôi nói : “ Lúc sinh thời Sơn vắng mặt chổ này chổ kia, nhưng khi Sơn ra đi, Sơn có mặt khắp mọi nơi”. Chúng tôi đều gặp nhau trong ư nghĩ về Sơn.
Có một lần nhà thơ Nguyễn Duy nói với tôi: “ Với anh Sáu th́ ḿnh phục rồi. Riêng tôi có điều phục nữa, anh Sáu là người rất dí dỏm, người biết đùa là người trẻ, người thông minh, ḿnh là người thích nói đùa, mà nhiều khi ḿnh đối đáp không kịp anh ấy!”. Đúng như Nguyễn Duy nhận xét. Lần nào gặp anh, theo từng câu chuyện, lúc nào anh cũng rạng rỡ, nụ cười, giọng cười của anh như kéo mọi người gần nhau.
Buổi gặp gỡ chiều này, tôi ngồi bên anh suốt hai tiếng đồng hồ, tôi không thấy anh cười. Tôi có cảm tưởng Trịnh Công Sơn đă mang theo nụ cười của anh. Anh Sáu buồn, buồn lắm, Sơn có biết không.
5-5-2001
Nguyễn Quang Sáng .
( Trịnh Công Sơn, người hát rong qua nhiều thế hệ – Nhà xuất bản Trẻ, tr. 173-175)
 
Lư Quư Chung, một nhà báo và là một dân biểu Việt Nam Cộng Ḥa, sau ngày 30-4-1975 đă chính thức phô bày bộ mặt thật, có viết về hai chữ  “ gia nô” như sau:
 
-  Ở miền Nam trước 1975, một người chỉ cần nói đọc báo nào, nghe nhạc ǵ th́ biết ngay người đó là ai, thái độ của người đó đối với chế độ Thiệu và người Mỹ như thế nào và thái độ của người đó đối với cuộc chiến tranh ra sao? Có báo “ gia nô” ( đó là cách gọi của người Sài G̣n trước 1975 đối với loại báo chí của chính quyền Thiệu hoặc theo phe Thiệu ).... ( TCS MTNT tr. 210)


Bài viết của Nguyễn Quang Sáng ghi lại nguyên nhân ra đời của hai bản nhạc  “ Em c̣n nhớ hay em đă quên ” và “ Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui ” . Nguyễn Quang Sáng  cho biết  anh Sáu Dân Vơ Văn Kiệt chỉ mới nói vài lời mà Trịnh Công Sơn đă lănh hội được ư của anh Sáu muốn cái ǵ và Sơn tự biết ḿnh phải làm cái ǵ ! Nói theo cách của Lư Quư Chung, đây đúng là hành vi của một “ gia nô ”. Thiên tài âm nhạc Trịnh Công Sơn  sau 1975 đă tự biến h́nh thành một nhạc - nô  viết nhạc theo ư muốn  của “ trên ”  để đáp ứng cho nhu cầu tuyên truyền.
 
Cũng qua bài viết của Nguyễn Quang Sáng, độc giả c̣n được nh́n thấy cung cách và thái độ  của thiên tài âm nhạc họ Trịnh đối với  anh Sáu Dân Vơ Văn Kiệt . Cái thái độ ấy phải gọi thế nào cho đúng  ? Bưng bô ? Liếm gót ? 

 
Riêng cái cung cách của một cán bộ tuyên truyền th́ được Trịnh Công Sơn thể hiện rất rơ qua những lời sau đây : “ việc in ấn càng lúc càng khó khăn, nhất là sau khi có lệnh tịch thu của chính quyền Nguyễn văn Thiệu toàn bộ các tập ca khúc và băng nhạc của tôi .... phải rải ra trong ba bốn  nhà in khác nhau....chuyệân đi đứng không phải dễ dàng.....đi từ một nhà in ở Sàig̣n đến một nhà in ở vùng Chợ Lớn phải qua biết bao nhiêu là trạm xét hỏi....”
 
Nếu chính quyền Nguyễn văn Thiệu tịch thu toàn bộ các tập ca khúc và băng nhạc của Trịnh Công Sơn, th́ chính quyền nào cấp giấy thông hành cho ca sĩ Khánh Ly sang Nhật hát bản Diễm Xưa của họ Trịnh tại hội chợ quốc tế Expo Osaka năm 1970? Chẳng lẽ đó là chính quyền Hà Nội ?
 
Nếu chính quyền ông Thiệu ra lệnh tịch thu toàn bộ các tập ca khúc, th́ tại sao các tập ca khúc của Trịnh Công Sơn với h́nh b́a do Trịnh Cung, Đinh Cường vẽ, vẫn được bày bán công khai tại các nhà sách ở Sài G̣n, ai muốn mua bao nhiêu cũng có ?
 
Nếu chính quyền ông Thiệu tịch thu toàn bộ băng nhạc th́ tại sao “ nhạc Trịnh ” vẫn vang dội tại các quán cà phê ở Sài G̣n, tại các câu lạc bộ quân trường? Khánh Ly vẫn nhởn nhơ tŕnh diễn nhạc Trịnh tại Queen Bee hàng đêm, và nhạc Trịnh vẫn được hát tại câu lạc bộ Huỳnh Hữu Bạc trong trại Phi Long-Tân Sơn Nhất vào mỗi cuối tuần?
 
Và đây mới là chuyện lạ bốn phương : “ đi từ một nhà in ở Sài G̣n đến một nhà in ở vùng Chợ Lớn phải qua biết bao nhiêu là trạm xét hỏi ...” Đây là thời điểm nào? Trước 30 tháng 4 năm 75 hay sau ngày “ giải phóng”?

Chính quyền Thiệu đă đặt nhiều trạm kiểm soát như thế,  mà người em ruột của Trịnh Công Sơn phụ trách phần in ấn và phát hành thường lui tới ba bốn nhà in hàng ngày mà vẫn không bị cảnh sát bắt v́ tội trốn lính ? 
Căn cứ vào những tài liệu “ thành văn ” và tài liệu “sống”, hầu như ai cũng biết rằng, thiên tài âm nhạc của họ Trịnh có cơ hội nẩy nở và thăng hoa là nhờ môi trường tự do, khai phóng của miền Nam dưới hai thời đệ nhất và đệ nhị Cộng Ḥa. Chính nhờ sự rộng lượng bao dung của chế độ Việt Nam Cộng Ḥa và sư che chở của một số sĩ quan cao cấp của QLVNCH mà họ Trịnh mới sáng tác được trên dưới 600 nhạc phẩm. Cũng chính chế độ Việt Nam Cộng Ḥa đă đem bài Diễm Xưa đến Hội Chợ Quốc Tế Osaka 1970 để rồi họ Trịnh mới chiếm giải nhất về Dân Ca và được người Nhật thực hiện trên đĩa vàng. Bài hát Nối Ṿng Tay Lớn được sử dụng trong các buổi sinh hoạt, họp mặt của thanh niên, sinh viên .....


Tóm lại, danh vọng và tiếng tăm mà họ Trịnh có được là nhờ ở chế độ Việt Nam Cộng Ḥa và những sĩ quan cao cấp trong QLVNCH đă cưu mang và che chở cho họ Trịnh. Nói  một cách dễ hiểu hơn, Trịnh Công Sơn đă sống như một loại kư sinh trùng trong ḷng hai chế độ Cộng Ḥa miền Nam. 
Kư sinh trùng như giun, sán sống trong ruột của con người, nhờ hấp thụ chất bổ dưỡng tích tụ trong ruột non của con người mà chúng nó mới sống khoẻ sống mạnh và sinh sôi nẩy nở. Thiên tài âm nhạc của Trịnh Công Sơn sẽ không thể phát triển và thăng hoa nếu không kư sinh trong môi trường tự do khai phóng của Việt Nam Cộng Ḥa, cho dù đang ở trong giai đoạn chiến đấu chống xâm lăng cộng sản.

Và trong lúc Trịnh Công Sơn trốn tránh trách nhiệm, sống như một loài kư sinh trùng giữa đô thị để viết những bài ca phản chiến th́ hàng triệu thanh niên cùng lứa tuổi đang hy sinh xương máu tại các chiến trường miền Nam trong từng giây, từng phút.
 
Đúng với lẽ công b́nh của trời đất và lương tâm con người, Trịnh Công Sơn đă mang một món nợ rất lớn đối với những người đă chết để họ Trịnh  được hít thở không khí tự do cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Những người ấy đă nằm xuống để họ Trịnh được sống, để họ Trịnh được có cơ hội nói ra những lời vô ơn bạc nghĩa và thực hiện những hành vi phản bội trong ngày 30 tháng 4 năm 1975. Nhiều người miền Nam từng coi Trịnh Công Sơn là thần tượng, từng ngưỡng mộ thiên tài âm nhạc của họ Trịnh đă ngỡ ngàng và đau đớn biết bao nhiêu khi nghe Trịnh Công Sơn lên đài phát thanh kêu gọi mọi người cùng hát bài Nối Ṿng Lay Lớn  để “ chào mừng cách mạng thành công ” giữa lúc Sài G̣n đang trong cơn hấp hối !
 
Nhiều người vẫn chưa quên giọng hát hồ hởi, tiếng vổ tay đánh nhịp dồn dập đầy sự phấn khởi của họ Trịnh trong ngày uất hận, đau thương và đen tối nhất của lịch sử dân tộc !
Trong ngày đen tối đó, họ Trịnh đă công khai bội phản những người từng cưu mang, dung dưỡng, che chở cho anh ta; minh thị phản bội những “ tấm ḷng ưu ái của quần chúng đối với ḿnh ” !
Nếu Trịnh Công Sơn không phải là một con người có tâm địa phản trắc th́ Trịnh Công Sơn là con người ǵ? 
Hăy nghe Trịnh Công Sơn  định nghĩa: “ trốn lính là một hành động phản kháng.”
 
Trốn lính vào thời điểm cộng sản đang tiến chiếm miền Nam là một hành động phản kháng, vậy th́ Trịnh Công Sơn muốn phản kháng ai và phản kháng điều ǵ? Có phải là phản kháng chế độ Việt Nam Cộng Ḥa đang dung dưỡng họ Trịnh, phản kháng những nổ lực của quân dân miền Nam đang ngăn chận làn sóng đỏ để bảo vệ cơm no áo ấm cho 25 triệu đồng bào, trong đó có cá nhân  và gia đ́nh  của Trịnh  Công Sơn ?
Thiên tài âm nhạc của Trịnh Công Sơn thật ra không ai phủ nhận, nhưng cái thiên tài ấy đă phản bội chính nghĩa quốc gia, tiếp tay với chế độ phi nhân, tiếp tay với những con người không c̣n lương tri đă đối đăi với đồng bào ruột thịt như kẻ thù không đội chung trời; cái thiên tài ấy đă góp phần gây ra tai họa khủng khiếp cho dân tộc, đẩy đất nước xuống hố diệt vong. Vậy th́ cái ṿng hào quang Quốc Gia mà ai đó cố choàng cho  Trịnh Công Sơn là không có thật, không bao giờ có thật. Thật sự trong tận cùng tim đen, Trịnh Công Sơn cũng không hề muốn đội cái ṿng hào quang Quốc Gia ấy.

  • Một lần nữa, hăy nghe họ Trịnh khẳng định chổ đứng : 

 
- Con kênh này sẽ kêu gọi những con kênh khác ra đời. Kênh chị, kênh em sẽ mọc lên cùng khắp để góp phần lợi ích cho những con người mới trong một thời đại mang tên Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam { sđd, tr.170 : Nam Thạch Hăn những ngày đầu tháng ba (1979 ) }
- Trốn lính gần như là một cái “ nghề ” đầy tính chất phiêu lưu của hàng triệu thanh niên  miền Nam lúc bấy giờ. Thái độ phản kháng ấy, dù nh́n dưới góc độ nào đó c̣n mang tính thụ động, vẫn phải được nhắc nhở đến như một nốt nhạc trong trẻo đă ngân lên trong một giai đoạn u ám, nhiễm độc, giữa những đô thị miền Nam.
      ( sđd,tr.180 )


Giai đoạn mà Trịch Công Sơn cho rằng “ u ám, nhiễm độc ” đó, như  đă nói ở trên, chính là giai đoạn mà Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đang ra sức bảo vệ tự do no ấm cho 25 triệu đồng bào miền Nam, chống lại công cuộc xích hóa của CS quốc tế mà Hà Nội là tay sai. Trốn lính trong giai đoạn ấy chỉ có những loại người sau đây: hèn nhát, ích kỷ và CS nằm vùng.  
 
Cho rằng có “ hàng triệu thanh niên miền Nam trốn lính” vào thời bấy giờ, Trịnh Công Sơn đă mặc nhiên ḥa nhịp theo cung điệu tuyên truyền của các cán bộ cộng sản, loại cán bộ đă huênh hoang “ lên lớp” những sĩ quan QL/VNCH trong các trại tù cải tạo rằng:  máy bay của ta nấp ở trên mây, đợi lúc máy bay địch xuất hiện th́ bất thần bay ra nghênh chiến...
Gọi hành động trốn lính là một “ thái độ phản kháng”, Trịnh Công Sơn muốn xác định rơ ràng anh ta không phải là người Quốc Gia.
Gọi hành động trốn lính là “ một nốt nhạc trong trẻo trong giai đoạn u ám, nhiễm độc...”, Trịnh Công Sơn muốn minh định rơ “ thiên tài âm nhạc ” họ Trịnh không thuộc Việt Nam Cộng Ḥa mà thuộc về  “ thời đại mang tên Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ”!   

Qua những tài liệu sống và những tài liệu thành văn, Trịnh Công Sơn là tổng hợp của:

- Một kẻ ích kỷ
- Một tên hèn nhát trốn lính
- Một tên nằm vùng
- Một loại kư sinh trùng
- Một kẻ phản bội
- Một tên lừa dối
- Một tên ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản

Trước lịch sử, Trịnh Công Sơn đă hiện nguyên h́nh. Không nên bóp méo lịch sử bằng cách choàng lên đầu Trịnh Công Sơn ṿng hào quang Quốc Gia không hề có thật; cũng đừng hô biến “ Nối Ṿng Tay Lớn ” trở thành một biểu tượng đoàn kết đấu tranh dân chủ, trong khi bài hát ấy đă được tác giả của nó hát lên để đón mừng cái chế độ phi nhân bóp họng dân chủ !
Phải trả lại sự thật cho lịch sử./.
 
BB& Liêm