Kể Lại Về 16 Tấn
Vàng VNCH
2 Ngày Kiểm Kê, Giao VC Giữ
Câu chuyện
thật về 16
tấn vàng đầy
huyền thoại của Kho Bạc VNCH đă
được tiết lộ bởi chính người kư
giấy bàn giao, theo một bài viết trên tờ Tuổi
Trẻ hôm Thứ Hai.
Bài viết nhan đề “Câu chuyện 16 tấn vàng tháng 4-1975 -- Kỳ cuối:
Người giữ ch́a khóa kho vàng” của ông Hùynh Bửu
Sơn đă nói rơ về chuyện bàn giao kho tàng.
Tác giả được giới thiệu như sau:
“Người giữ ch́a khóa kho vàng lúc đó là ông Huỳnh
Bửu Sơn - làm việc trong ban lănh đạo Nha Phát hành
Ngân hàng Quốc gia...”
Bài viết
trên tờ Tuổi
Trẻ trích
đoạn như sau:
“...Những ngày đầu tháng 5-1975, tôi vào tŕnh diện
tại Ngân hàng Quốc gia ở 17 Bến Chương
Dương, thủ đô Sài G̣n cùng các đồng
nghiệp khác, chỉ thiếu vắng một vài
người. Chúng tôi được lệnh của Ban Quân
quản Ngân hàng Quốc gia là chờ phân công tác. Trong khi
chờ đợi, mỗi ngày mọi người
đều phải có mặt tại cơ quan.
... Tôi đến tŕnh diện tại Ngân hàng Quốc gia và
được phân công tác tại Vụ Phát hành và kho
quĩ. Những ngày tiếp theo, Ban Quân quản tổ
chức học tập tại chỗ ba ngày cho các viên
chức ở lại và cấp giấy chứng nhận
học tập cải tạo. Lúc đó, giấy chứng nhận
này chính là một lá bùa hộ mệnh....
Lần kiểm kê cuối cùng
Vào đầu tháng 6-1975, tôi được lệnh của
Ban Quân quản Ngân hàng Quốc gia tiến hành kiểm kê kho
tiền và vàng của chế độ cũ, các kho
tiền và vàng của Ngân hàng Quốc gia thuộc quyền
quản lư của Nha Phát hành, nơi tôi làm việc trong ban
lănh đạo từ năm 1970 với tư cách là kiểm
soát viên. Anh giám đốc Nha Phát hành đă đi cải
tạo tập trung, do đó trong số người c̣n
ở lại chỉ có tôi là người giữ ch́a khóa và
anh Lê Minh Kiêm - chánh sự vụ - là người giữ mă
số của các hầm bạc.
Việc kiểm kê kho tiền và vàng là việc chúng tôi làm
thường xuyên hằng tháng, hằng năm nên cảm
thấy không có ǵ đặc biệt. Chỉ có một
điều là tôi biết lần kiểm kê này chắc
chắn là lần kiểm kê cuối cùng đối với
tôi, kho tiền và vàng sẽ được bàn giao cho chính
quyền mới. Tôi không lo âu ǵ cả v́ biết chắc
rằng số tiền và vàng nằm trong kho sẽ khớp
đúng với sổ sách.
Trong những ngày hỗn loạn, các hầm bạc của
Ngân hàng Quốc gia vẫn được chúng tôi quản lư
một cách tuyệt đối an toàn. Cần nói thêm là các
hầm bạc được xây rất kiên cố với
hai lớp tường dày, mỗi lớp gần nửa
thước, các cửa hầm bằng thép có hai ổ khóa
và mật mă riêng, được thay đổi định
kỳ, mỗi cửa nặng trên 1 tấn.
Đại diện Ban Quân quản là
một cán bộ đứng tuổi, khoảng 50. Cùng tham
gia với ông trong suốt quá tŕnh kiểm kê là một anh
bộ đội c̣n rất trẻ, trắng trẻo,
đẹp trai và rất thân thiện. Anh hay nắm tay tôi
khi tṛ chuyện. Sau này tôi mới biết tên anh là Hoàng Minh
Duyệt - chỉ huy phó đơn vị tiếp quản
Ngân hàng Quốc gia.
Số vàng đúc lưu giữ tại kho của Ngân hàng
Quốc gia vào thời điểm đó gồm vàng thoi và
các loại tiền vàng nguyên chất. Có ba loại vàng thoi:
vàng thoi mua của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED);
vàng thoi mua của một công ty đúc vàng ở Nam Phi - Công
ty Montagu; và vàng thoi được đúc tại Việt
Nam, do tiệm vàng Kim Thành đúc từ số vàng do quan
thuế tịch thu từ những người buôn lậu
qua biên giới, phần lớn từ Lào.
Tất cả những thoi vàng đều là vàng nguyên
chất, mỗi thoi nặng 12-14kg, trên mỗi thoi
đều có khắc số hiệu và tuổi vàng
(thường là 9997, 9998). Các thoi vàng được cất
trong những tủ sắt có hai lớp khóa và
được đặt trên những kệ bằng thép,
mỗi kệ được xếp khoảng năm, sáu
thoi vàng. Nhưng qua năm tháng, bị nặng trĩu
trước sức nặng của vàng, các kệ thép
cũng bị vênh đi.
Các đồng tiền vàng được giữ trong
những hộp gỗ đặt trong tủ sắt. Đó
là những đồng tiền vàng cổ có nhiều
loại, được đúc và phát hành từ thế
kỷ 18, 19 bởi nhiều quốc gia khác nhau... Ngoài giá
trị của vàng nguyên chất, các đồng tiền này
c̣n được tính theo giá trị tiền cổ, gấp
nhiều lần giá trị vàng nội tại của nó.
Tất cả số vàng thoi và tiền vàng cổ
đều được theo dơi chi tiết từng
đơn vị, số hiệu, tuổi vàng, số
lượng ghi trong một sổ kiểm kê do bộ
phận điện toán (computer) của ngân hàng theo dơi
định kỳ hằng tháng và hằng năm, hoặc
bất cứ khi nào có thay đổi xuất nhập
tồn kho.
Chúng tôi thực hiện công tác kiểm kê
trong hai ngày liền. Thật ra công việc cũng khá
đơn giản. Số giấy bạc dự trữ
giữ trong các thùng bằng gỗ thông được
niền bằng đai sắt và niêm ch́, mỗi thùng ghi rơ
mệnh giá, loại giấy bạc, số lượng. Do
đó chỉ cần kiểm kê số lượng thùng
bạc, các chi tiết tương ứng và đối
chiếu với sổ sách được điện toán
hóa là biết khớp đúng ngay.
Lúc đó, loại giấy bạc mệnh giá cao nhất
chỉ có 1.000 đồng, thuộc xêri mới phát hành, có in
h́nh các con thú hoang dă trong rừng rậm Việt Nam. Ngoài ra
vẫn c̣n tồn kho và tiếp tục phát hành loại
giấy bạc nổi tiếng có in h́nh danh tướng
Trần Hưng Đạo, mệnh giá 500 đồng.
Tổng giá trị giấy bạc dự trữ trong kho lúc
đó (nếu tôi nhớ không lầm) khoảng hơn 1.000
tỉ đồng, gấp đôi lượng tiền
lưu hành tại miền Nam vào thời điểm
giải phóng.
Chỉ trong một buổi sáng, chúng tôi đă kiểm kê xong
số lượng giấy bạc dự trữ. Việc
kiểm kê số vàng chiếm nhiều thời gian hơn v́
phải kiểm kê từng thoi vàng một để xem
trọng lượng, tuổi vàng và số hiệu có
khớp đúng với sổ sách hay không.
Cuộc kiểm kê kết thúc, ai nấy đều vui
vẻ thấy số lượng tiền và vàng kiểm kê
đều khớp với sổ sách điện toán
từng chi tiết nhỏ. Tôi kư vào biên bản kiểm kê,
ḷng cảm thấy nhẹ nhơm. Việc bàn giao tài sản
quốc gia cho chính quyền mới đă hoàn tất. Sau
chiến tranh, ít nhất đất nước cũng c̣n
lại một chút ǵ, dù khiêm tốn, để bắt
đầu xây dựng lại. Về phía chúng tôi,
điều này cũng chứng minh một cung cách quản
lư nghiêm túc của những người đă từng làm
việc tại Ngân hàng Quốc gia...”
Tác giả Huỳnh Bửu Sơn cũng liệt kê từng
tủ và từng Hầm kho tàng. Và cuối bài viết, ông
ghi: “Tổng cộng: 1.234 thoi vàng.”
Quynh Hoa Melb Australia on 2006/5/3
Nguoithongtin: Bọn Việt cộng chóp bu Hà
Nội ăn cắp
chia chác 16 tấn vàng tài sản của nhân dân VN, rồi dùng
bộ máy tuyên truyền quốc nội và truyền thông tay
sai hải ngoại vu khống: TT Nguyễn văn Thiệu
ra đi, mang theo 16 tấn vàng tài sản quốc gia.
TT Nguyễn
văn Thiệu: Đừng nghe những ǵ cộng sản
nói, hăy nh́n kỹ những ǵ cộng sản làm.
Nhân ngày 30-4: Câu chuyện về 16 tấn vàng
Bùi Tín Blog
12 tháng 4. 2012
Bùi Tín viết riêng cho VOA
Chuyện này xảy ra đă
gần 37 năm. Từ đầu năm nay tôi
nhận được 6 điện thư từ trong
nước, từ Canada và Cộng ḥa Liên bang Đức
hỏi về chuyện này. Đây là chuyện rất
cũ, nhưng do chế độ độc đảng
luôn duy tŕ nhiều mảng tối, không công khai minh bạch,
nên có nhiều vấn đề lịch sử cần làm
rơ.
Trưa 30-4-1975, trong pḥng
lớn của Dinh Độc lập, sau khi tôi gặp và
hỏi chuyện tướng Dương Văn Minh và ông
Vũ Văn Mẫu, không khí dần dần b́nh thản. Ông
Nguyễn Văn Hảo ghé tới nói nhỏ với
giọng miền Nam, «Thưa tôi là Nguyễn Văn Hảo,
phó thủ tướng đặc trách về kinh tế -
tài chính, có chuyện cần tŕnh bày riêng với các ông». Tôi
cùng ông Hảo đến ngồi bên chiếc bàn nhỏ
gần cửa sổ. Vừa ngồi xuống, ông Hảo nói
ngay: «Chúng tôi vừa trao đổi với nhau, muốn
nhờ ông báo ra ngoài đó là bọn này đă giữ lại
hơn 16 tấn vàng không để họ mang đi,
hiện để trong ngân khố, mong ngoài đó cho
người vô nhận». Tôi hỏi lại: «Ông nói sao? 16
tấn vàng trong ngân khố? Có thiệt không?». Tôi ghi vội
vài chữ trên sổ tay: Ng. v Hảo, 16 tấn, ngân
khố…, và nghe ông Hảo trả lời: «Thiệt chớ,
bọn này chịu hoàn toàn trách nhiệm mà». Ông c̣n nói thêm: «Nếu
các ông gửi (ông dùng tiếng Pháp «placer») ở các ngân hàng
quốc tế lớn th́ sau sẽ có thể thành 18 tấn,
20 tấn. Nếu cần, bọn này sẽ giúp».
Tối hôm đó tôi đi trên
chiếc xe jeep của đơn vị thông tin Quân đoàn
II khi được biết họ sắp vào sân bay Tân
Sơn Nhất để bắt liên lạc với phái
đoàn ta trong Ban Liên hợp Quân sự bốn bên (về sau
là Ban LHQS hai bên) lập ra từ sau Hiệp định Paris
tháng 1-1973. Tôi đă từng ở đó 60 ngày trong một
khu gọi là trại Davis. Thật là may mắn không ngờ.
Tôi hướng dẫn Thiếu úy Hà lái xe v́ tôi đă
hàng chục lần đi con đường này hồi 1973,
và đă nghiên cứu rất kỹ bản đồ Sài G̣n
mấy ngày đó. Tôi vào trại Davis như về nhà. Anh Vơ
Đông Giang, anh Hoàng Anh Tuấn vẫn ở đó. Chào
hỏi xong tôi vội xuống trạm thông tin, th́ vẫn là
tổ thông tin hơn 2 năm trước. Dạo ấy anh
em vẫn đánh bài viết của tôi cho báo Quân đội
Nhân dân. Chiều nay sau khi viết bài báo xong, tôi rất
băn khoăn v́ các nhà báo Pháp, Ư, Đức đều cho
tôi biết là bưu điện Sài G̣n đóng cửa 2 hôm
nay rồi. Điện thoại viễn liên bị cắt
đứt. Họ đang bế tắc không sao gửi bài
đi được. Tôi cũng sốt ruột không kém. V́
gửi bài báo ngay đêm nay để sáng mai bài báo
được in trên báo QĐND là một yêu cầu cấp
bách. Thượng sỹ thông tin trẻ măng người
Thái B́nh tên là Hải đánh bài báo của tôi bằng tín
hiệu Morse, tè tè tích tích. Bài báo gửi cho Thiếu
tướng Lê Quang Đạo, phó chủ nhiệm Tổng
cục Chính trị, để chuyển cho báo QĐND. Ngay
sau bài báo là mấy ḍng chữ «Gửi riêng Thủ
trưởng Tổng Cục Chính trị - Tuyệt mật.
Hôm nay 30-4-1975 Phó thủ tướng Nguyễn Văn
Hảo đặc trách kinh tế - tài chính báo tin cho tôi
là đă giữ lại trong ngân khố hơn 16 tấn vàng,
mong ta cho người vào nhận. Bùi Tín».
Sau đó tôi mới thong
thả gặp gỡ các anh em ta trong trại Davis, cùng ăn
một nồi chào gà tuyệt trần sau một ngày cực
kỳ căng thẳng, mệt nhọc.
Bài báo đăng trên báo
QĐND sáng ngày 1-5-1975 là bài báo duy nhất gửỉ
được từ Sài G̣n v́ hồi đó chưa có
điện thoại cầm tay, chưa có máy điện
toán xách tay như hiện nay. Máy fax
rất nặng nề. Do bài báo được chuyển
bằng tín hiệu Morse tè tè tích tích, nên có 2 chữ ghi sai.
Đó là khi tôi nói về thực đơn của Tổng
thống ngày 30-4 được in trên giấy đặt
trên bàn làm việc của ông, có 2 món là «cá thu kho mía» và «gân ḅ
hầm sâm», một món của cao lâu Tàu được
gọi là «ngầu pín», đă bị ghi sai thành cá thu kho giá và
gan ḅ hầm sâm. Nhiều người thắc mắc cá thu
kho giá và gan ḅ hầm sâm th́ có ǵ ngon và bổ. Người
đánh và nhận Morse đă nhầm chữ «g» (tè-tè-tích)
thành chữ «m» (tè-tè) và chữ «â» thành «a».
Ít lâu sau đó, tôi đọc
trên cuốn A Decent Interval (Khoảng cách vừa
phải) của Frank Snepp, một cán bộ CIA ở Sài G̣n
trước đó, nói rằng Tổng thống Nguyễn
Văn Thiệu đă mang đi hàng chục tấn tài
sản quư sang Đài Loan, nơi có anh ông là đại
sứ Nguyễn Văn Kiểu, để đưa sang Hoa
Kỳ sau đó.
Tất cả các báo chính
thức ở Hà Nội hồi đó đều trích
đăng cuốn sách của Frank Snepp, đoạn nói
về việc ông Thiệu chở tài sản quốc gia
trong đó có hơn 10 tấn vàng trong ngân khố ra khỏi
nước, và ai cũng đinh ninh là chuyện này là có
thật.
Ở hải ngoại
nhiều bài viết cho đến nay vẫn đinh ninh
chuyện ông Thiệu mang đi 16 tấn vàng là có thật,
lên án ông rất nặng nề là trong t́nh h́nh cực kỳ
khẩn trương ông đă chỉ lo vun vén cho cá nhân, lo
chiếm đoạt tài sản công thành của riêng một
cách tồi tệ.
Về phía chính quyền
độc đảng ở trong nước, họ
vẫn cố t́nh duy tŕ một t́nh h́nh ỡm ờ úp úp
mở mở, không rơ ràng minh bạch về hơn 16 tấn
vàng trong ngân khố Sài G̣n hồi ấy, với ư
định không sạch sẽ là để cho mọi
người hiểu lầm về chuyện này.
Năm 1994, khi tôi đă ở
Paris, một bạn người Việt làm việc cơ
quan nghiên cứu và lưu trữ về chiến tranh
Việt Nam ở Lubbock, Tiều bangTexas, Hoa Kỳ, cho tôi
địa chỉ điện thoại của ông Nguyễn
Văn Hảo. Tôi gọi ngay cho ông và từ đó có dịp
nói chuyện về ngày 30-4-1975. Ông cho biết ông đang
ở Port-au–Prince, thủ đô nước cộng ḥa Haiti,
trong vùng Antilles - Caribbean, làm cố vấn kinh tế cho chính
phủ Haiti. Ông cũng được biết đầu
tháng 5-1975 ngoài Hà Nội đă cho riêng 1 chuyến chuyên cơ
vào tiếp nhận hơn 16 tấn vàng và chở ra Hà
Nội.
Đầu tháng 5-1975 tôi
cũng được tướng Đào Đ́nh Luyện,
chỉ huy không quân, cho biết nguyên một chuyến chuyên
cơ IL 18 đă chở số vàng thu được từ
Sài G̣n ra Hà Nội.
Ông Hảo kể lại
chuyện này: «Hồi đó, ông Vũ Văn Mẫu
đề xuất với tướng Dương Văn
Minh rồi giao cho tôi (là ông Hảo) mật báo cho đại
diện của các ông, sau khi được báo là một
sỹ quan cao cấp vào gặp bọn này». Ông nói thêm: «Các
ổng muốn các ông hiểu rơ là bọn này đă cố
giữ lại không cho họ mang đi để giữ
lại tài sản quốc gia đặng giao lại cho quư
ông». Ông c̣n cười vui: «Lẽ ra quư ông có một lời
tiếp nhận và đánh giá công khai chuyện này cho
đồng bào cả nước biết th́ bọn này
mới thật hài ḷng». Lần sau gặp ông trên
điện thoại, ông cho tôi biết thêm là «công bằng mà
nói, đă có nhiều dự án chuyển hết số vàng
trong ngân khố ra nước ngoài, qua các ngân hàng quốc
tế, nhưng các cuộc thương lượng chưa
ngả ngũ th́ quư ông đă vô rồi. Anh em phụ trách
Ngân khố quốc gia cũng tỏ rơ thái độ không
để cho họ mang đi. Lẽ ra các ông nên có lời
khen cho anh em đó vui ḷng».
Trong các phiên họp của
chính phủ, của quốc hội sau 30-4-1975, không có
một chi tiết nào về hơn 16 tấn vàng
được chính quyền miền Nam chính thức giao
lại. Nó có thật sự nhập kho Nhà Nước
đầy đủ, và được dùng vào những
việc ǵ? Không ai biết. Đại biểu Quốc
hội không ai hỏi, v́ 90 % đại biểu là
đảng viên, số ngoài đảng c̣n bảo hoàng
hơn nhà vua.
Tháng 4-2010, Bộ Quốc
pḥng Hà Nội có cuộc họp «viết lại một cách
chính thức diễn biến ngày 30-4-1975 ở Dinh
Độc lập», họ không nhắc đến tên tôi,
coi như nhà báo Bùi Tín không hề có mặt ở Sài G̣n ngày
hôm đó, cũng không hề nhắc đến chuyện
hơn 16 tấn vàng, một chi tiết không nhỏ,
nhưng họ không muốn nhắc đến nữa.
Năm 1987, khi có dịp
gặp ông Trường Chinh ở Đà Lạt, tôi
kể lại chuyện này, ông cho biết : « Tôi có biết
chuyện này, nhưng hết sạch cả rồi, trong
mấy năm khó khăn, cấu véo hết tấn này
đến tấn khác, mua lương thực, nguyên
liệu, nay c̣n ǵ nữa đâu!». Đây là câu duy nhất tôi
nghe được về số phận của hơn 16
tấn vàng năm 1975, từ miệng một nhà lănh
đạo.
Các phiên họp Quốc
hồi từ 1975 đến nay, không ai biết, cũng
không ai hỏi , chiến lợi phẩm thu được
ở miền Nam, số tiền hồi ấy bộ Công an
có chủ trương bán băi, bán tầu thuyền, thu vàng cho
mỗi người lên tàu di tản - từ 3 lạng
đến 6 lạng, có khi lên đến 12 lạng vàng
mỗi đầu người - tất cả là bao
nhiêu? Và tiền thu của người Hoa bị xua
đuổi từ Cẩm Phả, Hon Gai, Hải Pḥng vào
đến Vũng Tàu, Chợ Lớn, Cần Thơ...là bao
nhiêu? Lại c̣n tiền của thu được qua các
chiến dịch tiêu diệt công thương nghiệp
tư nhân, cái gọi là diệt gian thương trên toàn
miền Nam hồi đó, tiêu tan đi đâu cả rồi?
Trong Quốc hội có Ban Kinh tế - Tài chính, nhưng có ai
được biết ǵ đâu, có ai dám hỏi ǵ đâu,
cả một khối mờ ám cỡ quốc gia, do
đồng nhất đảng với nhà nước,
đảng với quốc gia, đảng với nhân dân,
tuy ba mà một.
Lại c̣n trong chiến
dịch gọi là giải phóng Campuchia khỏi diệt
chủng của Khơ-me Đỏ cuối năm 1978-
đầu năm 1979, đơn vị đặc công và
một sư đoàn của Quân đoàn IV được lệnh
chiếm các cơ sở trong thủ đô Pnom Penh,
đặc biệt là khu hoàng cung, tiền của, kho tàng,
đồ cổ lớn nhỏ đă được thu
về bao nhiêu? Mang về nước ta bao nhiêu? Ờ
đâu, có biên bản, thống kê ǵ không? Tôi được
biết phần lớn là giao cho Ban Tài chính - Quản
trị trung ương đảng, một cơ quan kinh
tế - tài chính - thương nghiệp xuất nhập
khẩu - sản xuất kinh doanh riêng của
đảng, mà biên chế c̣n lớn hơn cả
bộ Công thương và bộ Kế hoạch -
Đầu tư cộng lại.
Chế độ hiện
tại quan tâm đến tiền bạc, ngoại tệ,
ngân khố, ngân hàng, hơn là cái gốc của nền kinh
tế là sản xuất ra của cải với kỹ
thuật cao, giá thấp . Họ quên chức năng cơ
bản của nhà nước là phân phối, điều
tiết phân phối lại thành quả phát triển cho toàn
xă hội cùng hưởng.
Các bộ của chính phủ
coi rất nhẹ việc quản lư về hành chính, chỉ
chăm chú đến sân sau là các công ty kinh doanh để
chia chác bổng lộc, mặc cho các chỉ thị thu
rất hẹp lĩnh vực này.
Xin quan sát kỹ để
thấy rằng ai dính đến tài chính, ngân hàng, ngân sách
đều được thăng quan tiến chức nhanh
nhất; thủ tướng hiện nay từng là Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước; chủ tịch Quốc
hội hiện nay trưởng thành từ Cục
trưởng Cục Ngân sách, rồi thứ trưởng
tài chính, rồi bộ trưởng tài chính, rồi phó
thủ tướng thường trực. Một phó
thủ tướng hiện nay cũng từng là thứ
trưởng rồi bộ trưởng bộ tài chính.
Nguyên thống đốc ngân hàng Trần Đức Thúy cùng
cậu con trai Trần Đức Minh và cộng tác viên thân
cận là đại tá công an Lương Ngọc Anh
đều là những nhân vật con cưng của chế
độ, những công thần hàng đầu trong việc
ngang nhiên phân phối lại tiền của của nhân
dân đổ vào ngân sách riêng của đảng. (Các bạn
có thể đọc thêm bài báo «Nạn chảy máu tài nguyên
quốc gia» trên VOA ngày 17-8-2011).
Lúc này giới cầm
quyền trong nước cần nhớ lại lời
khuyên tâm huyết của ông Lư Quang Diệu mươi
năm về trước là: «Khi sẽ có nhiều khoản
tiền đầu tư lớn từ nước ngoài
chảy vào, hăy giữ ǵn cẩn thận, không
để cho đồng tiền chỉ huy, ngự
trị, làm chủ lương tâm viên chức, hăy rất
cảnh giác với đồng tiền bẩn, đồng
tiền phi pháp, nó sẽ phá hoại công cuộc phát
triển». Cũng chính Cụ Lư - như một số
người trong nước thân mật gọi – căn
dặn cách pḥng chống tham nhũng có hiệu quả
là: luật pháp, ngành tư pháp, ṭa án phải rất nghiêm
(để không ai dám tham v́ sợ tù ), lương viên
chức tạm đủ sống (không cần tham
nhũng), tuyên truyền giáo dục nêu gương các
viên chức trong sạch sống thanh bạch, chỉ ra
kẻ tham là kẻ cắp, kẻ cướp xấu xa ô
nhục tàn phá rường cột của quốc gia (không
ai nỡ tham nhũng v́ sợ nhục).
Có thể nói tiền nong, vàng
bạc, của cải trong chế độ độc
đảng đă gây nên tham nhũng, bất công kinh
khủng chưa từng có trong xă hội nước ta,
tiền của vàng bạc phi pháp đă tha hóa giới
cầm quyền ở mọi cấp, tàn phá đảng
cộng sản Việt Nam từ gốc lên ngọn.
Hiện là thời kỳ
đảng viên quan chức lao lên trước đi tiên
phong để trở thành đại gia, đại
điền chủ, đại trọc phú, đại tư
bản đỏ, bỏ mặc nhân dân của ḿnh nghèo
đói ở phía sau, đến nỗi nhà Mác-xít Lữ
Phương phải la trời rằng đảng cộng
sản đă đi đầu trong xây dựng chủ
nghĩa tư bản man rợ. Đó là thời kỳ các
quan chức vứt hàng ngàn tỷ này đến hàng ngh́n
tỷ khác qua cửa sổ, ch́m nghỉm dưới đáy
biển, để mặc cho hệ thống y tế
và giáo dục tàn tạ, bệ rạc.
Thời đại kim
tiền của các nhà cầm quyền tỷ phú
Marcos, Suharto, Park Chung Hy, Ceausescu, Ben Ali, Ghadafi,
Mubarak…đă kết thúc bi thảm. Gương tày liếp
cho những bầy sâu chói mắt v́ ánh vàng.
Bùi Tín